Hiện nay có rất nhiều đơn vị tham gia sản xuất các loại gạch không nung cung cấp cho thị trường xây dựng, từ các loại gạch Xỉ lò, các loại gạch Bê tông đá dăm, Gach Bê tông nhẹ.

Các loại gạch không nung phổ biến thị trường Việt Nam

Gạch xỉ

Là các loại gạch không nung đã xuất hiện từ lâu, nguyên liệu chính của các loại gạch này là xỉ than của các lò Gạch nung, lò vôi. Sản xuất loại gạch này đa số bằng phương pháp thủ công, viện gạch lớn, nặng. Khi sản xuất goại gạch này người ta thường cho thêm vôi, Xi măng vào để làm chất kết dính. Do viên gạch thô, màu sắc đen sẫm, cường độ thấp nên trước đây loại gạch này thường sử dụng xây bờ rào, công trình phụ trong dân. Hiện nay loại gạch này gần như không còn được sản xuất do lượng xỉ than đã được các lò gạch đất nung truyền thống tận thu làm nhiên liệu đốt và cốt liệu. Có thể nói loại gạch Xỉ này cũng đã có thời góp phần không nhỏ đáp ứng nhu cầu xây dựng của nhân dân.

Gạch, tấm tường xi măng

Từ khi có chính sách khuyến khích chuyển đổi sử dụng vật liệu không nung của chính phủ, các loại Gạch Xi măng – Cát, Gạch Bê Tông đá cốt liệu phát triển mạnh. Các loại gạch này rất đa dạng về chủng loại, kích thước có thể đáp ứng cho xây dựng nhiều hạng mục trong các công trình xây dựng công nghiệp cũng như dân dụng. Nguyên liệu chính để sản xuất các loại gạch này là Cát modul lớn, đá nhỏ, Xi măng. Các loại gạch này đang từng bước thay thế Gạch đất nung truyền thống. Nhược điểm cố hữu của các loại gạch này vẫn là nặng (khối lượng riêng lớn), cường độ thấp và không có tính chất chống thấm. Xử dụng loại gạch này để xây dựng vẫn theo phương thức cũ: Xây từng viên với kết dính bằng vữa, chờ khô, trát áo, chờ khô. Phương pháp xây này rất tốn nhân công và thời gian Đối với tấm tường Xi măng – Cát của một vài đơn vị đã sản xuất trong nước, với bản chất vật liệu như vậy nên vẫn còn hai yếu điểm lớn đó là nặng và thấm dẫn tới hạn hẹp về phạm vi ứng dụng, các loại tấm này chỉ được dùng chủ yếu trong lắp ghép tường ngăn phòng trong các công trình nhà cao tầng, chưa thể đưa ra ngoài làm tường bao che cũng 4 như xây dựng cho khu vệ sinh. Loại tấm này còn ứng dụng lắp ghép hàng rào cho công trình cũng rất thích hợp. Việc phát triển tấm tường cũng đã là bước tiến lớn trong phát trển vật liệu bao che, các tấm khổ lớn lắp ghép giúp đẩy nhanh tiến độ xây dựng; Sau khi lắp ghép có thể bả, sơn ngay.

Gạch đất trộn xin măng

Loại gạch này mới được phát triển ở nước ta trong thời gian gần đây. Nguyên liệu chính của loại gạch này là đất và Xi măng. Xi măng, đất và nước được phối trộn theo tỷ lệ thích hợp đưa vào máy nén ở áp lực cao, sau thời gian đủ lâu viên gạch sẽ đạt cường độ đủ dùng trong xây dựng. Loại gạch này có hình dạng và kích thước đa dạng, người ta đã thiết kế các khóa âm dương cũng như những trục rỗng đồng tâm nên loại gạch này có thể xây theo dạng tự chèn (không dùng vữa kết dính), sau khi hoàn thiện bức tường người ta còn có tể gia cố độ vững bằng cách cắm xương Kim loại hoặc đổ Bê tông vào các lỗ đồng tâm.

Không dùng vữa kết nối và vữa trát nên khi xây dựng loại gạch này khá nhanh nhưng cũng đã bộc lộ rất nhiều yếu điểm: Cốt liệu chính là đất (cũng đã được lựa chọn phù hợp) nên gạch này có cường độ không cao, gạch rất nặng (để góp phần tự chèn bằng trọng 5 lực), khả năng chống thấm kém. Hơn nữa khi xử dụng loại gạch này trong xây dựng vẫn cần kết hợp nhiều công tác chuẩn bị nền móng, cột định hình, chịu lực bằng vật liệu thông thường (Xi măng, sắt thép,…) nếu không thể đáp ứng được yêu cầu chịu lực, tạo hình trong xây dựng. Loại gạch này mới chỉ đáp ứng dược một phần yêu cầu trang trí, bao che, thường áp dụng làm tường rào hoặc những bức bao che không quan trọng.

Gạch tấm bê tông trộn xốp

Trong vài năm trở lại đây trên thị trường vật liệu xây dựng xuất hiện loại gạch và tấm Bê tông rộn xốp (các hạt xốp là hạt polymer Styren). Người ta phối trộn Xi măng cát với các hạt xốp, khi dùng làm gạch xây người ta đúc nhiều kích thước khác nhau theo yêu cầu và thiết kế, khi làm tấm Panel người ta ốp ngoài bằng tấm vật liệu chịu nước. Một biến thể nữa của loại vật liệu này là người ta đúc hai mặt bằng Bê tông và độn tấm xốp vào giữa, liên kết hai mặt bằng thép.

Loại vật liệu này đáp ứng được tiêu chí giảm trọng lượng nhưng cũng đã bộc lộ nhiều nhược điểm:

– Xốp và Xi măng cát là những loại vật liệu không tương hợp, Xi măng cát bọc phủ hạt xốp nhưng không có liên kết bền vững nên theo thời gian xốp và các thành phần còn lại sẽ tách ra dẫn tới cả khối vật liệu không có tính chống thấm.

– Cả khối vật liệu không có cường độ cao, không có tính bảo vệ (những vị trí bao che cần tính chắc chắn), dễ phá hủy.

– Khi ốp bên ngoài bằng những loại tấm Xi măng,  bột giấy, những tấm này cũng bám dính không cao vào lớp bên trong nên theo thời gian các tấm ốp ngoài này cũng có thể bị bong ra.

–  Lớp sơn bám lên bề mặt của Gạch hoặc Tấm của loại vật liệu này cũng có thể gặp vấn đề về độ bám dính, độ bền.

– Trong trường hợp sơn hệ dầu, nếu gạch không ốp tấm bọc ngoài, lớp sơn này có thể tiếp xúc làm tan hạt xốp Trong trường hợp xây tường Bê tông –Xốp này cũn không thể khoan neo để treo các vật nặng,…

Gạch, tấm bê tông nhẹ

Trong nhóm vật liệu không nung này bao gồm loại Bê tông nhẹ sản xuất theo công nghệ Bê tông bọt và Bê tông khí chưng áp.

Bê tông bọt khí thường áp dụng để đổ điền đầy, chống nóng cho mái. Bê tông này sản xất bằng cách trộn Xi măng, cốt liệu nhỏ, nước và phụ gia tạo bọt, khi khuấy trộn đủ thời gian phụ gia sẽ tạo thành các hạt bọt khí có kích thước 1-2mm làm tăng thể tích khối Bê tông, sau khi ninh kết đủ độ cứng khối đặc sẽ hình thành, tùy loại phụ gia tạo bọt, tốc độ, thời gian khuấy trộn mà cho ra loại Bê tông có khối lượng riêng khác nhau, thường từ 0.3-0.8 tấn/m3.

Bê tông khí chưng áp được sản xuất từ Xi măng, vôi, cát nghiền mịn, nước và chất tạo bọt (bột Nhôm trong môi trường kiềm). Hỗn hợp vật liệu được trộn đều, tạo hình bằng khuôn thép. Trong thời gian bắt đầu đông kết phản ứng sinh khí tạo các lỗ rỗng kín làm cho hỗn hợp bê tông trương nở, nhờ đó bê tông có khối lượng thể tích thấp. Sau khi đóng rắn sơ bộ sản phẩm được tháo khuôn, cắt thành từng block theo kích thước yêu cầu và được đưa vào thiết bị chưng áp (autoclave), tại đó sản phẩm phát triển cường độ trong môi trường hơi nước bão hoà có nhiệt độ và áp suất cao.

Bê tông khí chưng áp có thể được cắt thành dạng gạch với nhiều kích thước khác nhau hoặc sản xuất thành dạng tấm. Hiện nay dạng tấm được thêm lưới thép gia cường (bằng thép F4-6 sơn lớp bảo vệ), lưới thép gia cường này làm tăng tính bền uốn, tính chất bảo vệ cho tấm vật liệu này.

Ưu điểm của Bê tông khí chưng áp:
– Là loại vật liệu nhẹ
– Cách âm, cách nhiệt, chống cháy
– Sản xuất theo dây chuyền hiện đại nên có độ chính xác cao
– Đa ứng dụng: Vách ngăn, mái, tường bao, sàn nền
Nhược điểm:
– Cường độ chịu nén thấp thường từ B2-B8 ( 2-10 MPa)
– Thấm.

Trên thực tế loại Bê tông khí chưng áp thông dụng nhất có cường độ 5Mpa rất dễ bị phá hủy (thậm chí bằng tay) nên dù với các tấm có lưới thép gia cường vẫn rất dễ dàng tạo ra lỗ thủng trên tường xây từ vật liệu này, nên đối với các công trình yêu cầu tính vững chắc, bảo vệ cao mà xử dụng vật liệu này làm bao che bên ngoài sẽ không đảm bảo.

Tính thấm: do vật liệu được điền đầy bằng các khoảng rỗng nên vật liệu này không có tính chông thấm. Trong vài năm trở lại đây đã có nhiều công trình bị thấm, ẩm ảnh hưởng nghiêm trọng do xử dụng gạch chưng áp. Những vị trí dễ bị thấm là tường bao ngoài, các khu vệ sinh. Để giải quyết vấn đề thấm ẩm cần chi phí khá lớn cho giải pháp chống thấm, thường phải thi công lớp chống thấm trước khi sơn phủ hoặc ốp lát lên bề mặt loại tường này.

zalo-icon
facebook-icon
phone-icon